Thứ Ba, 4 tháng 11, 2014

TVK tại cảnh vườn Sceaux năm 1954

Đây là cảnh vườn Sceaux năm 1954 cạnh nhà dưỡng bịnh cho những sinh viên từ các nhà dưỡng lao trở về nằm tại đây để bác sĩ theo dõi trong 2-3 tuần lễ trước khi trở về với cuộc sống bình thường. Vườn hoa này rất đẹp, quanh năm luôn luôn có nhiều sắc hoa, là nơi du ngoạn cho người trong thành phố, hầu hết là những người khá giả, lại có trường đại học Sceaux là một trường danh tiếng. Sau khi chụp tấm ảnh này thì độ 2 tuần lễ sau tôi được xuất viện và tiếp tục học tại Sorbonne để bảo vệ luận án Tấn sĩ.

Sáng nay thấy thoải mái trong người nên muốn mời các bạn cùng quay ngược dòng thời gian để cùng dạo chơi với Trần Văn Khê một thời tuổi trẻ xa xưa, hít thở không khí trong lành và ngắm những đoá hoa tươi làm dịu mát cả tâm hồn...

Thứ Sáu, 26 tháng 9, 2014

THƯỞNG THỨC HƯƠNG TRÀ MÙA SEN TẠI HIỆN QUÁN TRÀ THẤT CỦA NGHỆ NHÂN VIÊN TRÂN 2012

19g00’: Viên Trân mời uống trà Mùa Sen tháng 04


Hôm nay Hải Phượng có buổi hội thảo ở Huế nên không tham dự được. Cháu nói rất tiếc chưa bao giờ tham dự một buổi trà đàm “đúng nghĩa” ở trà quán của Viên Trân mà chỉ đến có một lần trong dịp uống thử rượu sen, rượu quýt, đi chung với cháu Khánh Vân, trong phạm vi vài người bạn thân tình mà thôi.

Không ngờ chiều tối nay trời mưa tầm tã, tôi gọi điện thoại cho cháu Khánh Vân nói cháu cứ đi taxi đến rồi đi chung với tôi luôn cho khỏi mắc mưa, nhưng khi nghe điện thoại thì mới biết cháu đã trên đường đi tới đây rồi, trời mưa mà đi xe máy! Theo kinh nghiệm thì lúc trời mưa như thế này rất khó gọi taxi, tôi đành phải gọi xe trước và ngồi chờ trên xe. Khánh Vân chạy xe máy tới kịp lúc và 2 Thầy trò đi đến trà quán ngay. Chỉ sợ mưa to như thế này cũng khó cho người tổ chức và người tham dự.

19h tới quán trà, tuy mưa nhưng khách mời cũng đã đến đông đủ. Phu quân của Viên Trân tới đỡ tôi đi vào chỗ ngồi đã sắp đặt sẵn cho quan khách. Lần này Viên Trân sắp chỗ cho Khánh Vân ngồi gần tôi để chăm sóc tôi, vì biết tôi sức khỏe không được tốt như trước. Trên bàn được sắp đặt rất đẹp nhờ những bông sen hồng đựng trong các lọ miệng thấp mà thường dùng để đun nước sôi pha trà, phía dưới trải một lớp lá sen xanh mướt, xung quanh có để các dĩa nhỏ, dưới lót cánh hoa sen, trên để các viên kẹo sen tròn màu vàng nhìn như những viên “đơn dược”, gợi lên không khí tao nhã của một buổi trà ẩm đậm màu sắc thi ca, hội họa. 













































Tuy không có tiếng đàn Tranh hay đàn Bầu Việt Nam êm ái nhưng một vài tiếng cổ cầm cũng như vài tiếng nhạc êm đềm (Zen music) như tiếng nước chảy róc rách, tiếng nước mưa nhỏ giọt trên tàu lá chuối, tiếng gió thổi vi vu… cũng gợi nên được không khí nên thơ. Nếu có thể thay nhạc Trung Quốc bằng chút êm dịu của nhạc Việt Nam có lẽ sẽ hấp dẫn hơn, nhưng hiện nay trên thị trường Việt Nam làm gì có thể kiếm đâu ra một album nhạc dân tộc hòa tấu êm dịu như vậy, giống như các loại Relaxation Spa music? Đó là nói riêng về nhạc. Còn khung cảnh xung quanh cũng được sắp đặt cẩn thận, mà nhứt là trang trí rất công phu. Mỗi góc quán đều trưng bày sen với những cách bài trí khác nhau, nhưng theo ghi nhận của tôi, tựu trung lại đều mang phong cách dân dã vùng quê. Có khi là một lu nước rộng, trải cánh sen và cắm sen thành một ao sen tí hon, trên mặt lá sen còn đẫm những giọt nước long lanh, gợi cho ta liên tưởng đến một hồ sen mùa hạ. Bên trên những chiếc kệ đựng trà, có cắm các bình hoa sen hồng bên cạnh những bình rượu sen, rượu mơ đang chưng cất, đằng sau chiếc bình là những dòng chữ thư pháp Quốc ngữ được viết thảo rất phóng khoáng (mà theo tôi được biết là do thư pháp gia Mỹ Lý thủ bút), nội dung nói về sự thanh tịnh, trang nghiêm… Gần đó, chủ nhân trà quán còn bày biện thêm một quang gánh đựng những niêu đất, xung quanh có điểm thêm vài cành sen, gợi cho khách thưởng lãm có cảm giác đang ngồi ở một vùng quê yên ả ngày hè. Còn trên bàn tiệc thì khỏi phải nói, cơ man nào là sen. Sen ủ trà đựng trong ly nước trong suốt, trên ngọn búp sen có quấn một dải lụa xanh để chuẩn bị cho việc thưởng trà; sen từng bó thơm hương để trong những chiếc bình cắm dẹt miệng, chuẩn bị cho buổi uống trà tăng phần đẹp đẽ; sen mỏng manh từng cánh trên những chiếc dĩa đựng kẹo sen làm bồi hồi những người thưởng ngoạn… Viên Trân tặng mỗi vị khách đến dự buổi trà đàm hôm đó một quyển nội san chủ đề Mùa Sen, có sự đóng góp bài vở của những người có mặt trong đêm trà cũng như vài thân hữu bạn văn chương của cô, vừa có thú viết bài, làm thơ cũng như ưa thích thú thưởng trà, nếm rượu. Tôi và cháu KV cũng có viết cho nội san vài bài, văn và thơ đều đầy đủ.

Ngồi bên cạnh tôi hôm nay là 2 vị giáo sư: một người về khoa học là GS Nguyễn Đăng Hưng, một người là GS văn chương Trần Hữu Tá. Những người tham gia hôm nay cũng là những bạn bè về văn nghệ của VT như đạo diễn Xuân Phượng (người được bắc đẩu bội tinh của Pháp), nhà văn Huỳnh Ngọc Chiến (chuyên viết biên khảo về văn chương), bác sĩ Đặng Công Hân (một y sĩ mê văn nghệ) cùng vài bạn trẻ khác. Trước khi vào buổi tọa đàm, chia sẻ những kinh nghiệm về Trà Sen, những cách thưởng thức trà của ông bà xưa để lại… thì Viên Trân mời chúng tôi cùng nếm hương vị trà sen mà cô đã chuẩn bị từ trước, nhưng lần này đúng như những gì tôi nói đến trong bài viết ở quyển nội san, hôm nay ai cũng thưởng thức bằng cách “tác động” chứ không phải “thụ động” như mọi khi. Trước mặt mỗi vị khách đều có một chén trà bằng sứ trắng và một bông sen phong kín búp bằng một dải lụa, bên trong có ướp trà. Mỗi người tự tay mình tách từng cánh sen để lên chiếc dĩa nhỏ trước mặt tạo thành hình vòng tròn, rồi sau đó đặt chiếc chén trắng lên, trút trà trong búp sen ra đổ vào chén, dùng nước sôi pha trà. Rất vui và thú vị. Trong lúc tự tay mình thực hiện một chén trà, dầu chưa uống nhưng bản thân tôi đã thấy rất ngon rồi, vì tất cả các công đoạn đều đẹp từ hình thức tới nội dung. Lúc uống trà, các vị khách mời lần lượt nói về kỷ niệm với Sen và trà Sen. Người được mời nói đầu tiên là GS Trần Hữu Tá. Ông kể cho chúng tôi nghe kỷ niệm thuở ấu thơ của ông với người mẹ của mình và cách thức ướp trà sen trong gia đình, cùng những buổi lăn lộn trên cánh hoa sen để nghe mùi trà mà mẹ mình ướp công phu đến thế nào, và người cha đã thưởng thức thứ trà đặc biệt đó như thế nào. Sau GS Trần Hữu Tá là đạo diễn Xuân Phượng nói về kỷ niệm của mình với phong cách uống trà quý tộc ở Huế. Trong ký ức của bà, ông cố, ông nội là những người thưởng thức trà sành điệu và có những tình bạn tri kỷ tri âm đẹp đến nhường nào. Có những bộ trà cụ rất quý mà khi cầm trên tay đem ra cho ông của mình uống trà đối ẩm với bạn bè thân quý, bà và những người thân trong gia đình đã phải “run” như thế nào vì sợ làm vỡ loại chén ngọc quý mà ông nâng niu. Vậy mà người ông nói rằng “khi có bạn quý, tri kỷ tri âm thì bao nhiêu cái chén ngọc quý cũng không cần!”. Bên cạnh đó là cách uống trà cầu kỳ, vương giả của tầng lớp trí thức thời bấy giờ với loại sen trắng hồ Tịnh Tâm. Tiếp theo sau đó, Viên Trân mời chúng tôi ăn một loại cháo cô nấu từ hạt sen và thịt gà. Cháo rất ngon và thanh thanh vị hạt sen, vị thịt gà, hòa quyện với hương sen tỏa ra từ các bông sen đặt trong trà quán. Sau khi dùng cháo, tôi được mời nói chuyện về cách thưởng thức nghệ thuật toàn diện trong ẩm thực. Đây cũng là nội dung bài nói chuyện của tôi đăng trong cuốn nội san, nhưng được người tổ chức tha thiết mời nói để chia sẻ cùng các cử tọa có mặt ngày hôm đó. Tôi lần lượt nói về cách uống rượu ở những nơi tôi từng đi qua với những trường hợp hết sức đặc biệt, từ việc uống loại rượu Bourgogne của các bà soeur mà còn được chỉ dẫn cách thưởng ngoạn màu rượu, cách giữ rượu trong kẽ răng… đến việc uống rượu đặc biệt đóng nhãn chai tên họ, ngày tháng năm sanh dành cho một người… Các vị khách có mặt khi nghe tôi nói về cách uống rượu như thế đều đồng loạt tán thưởng vì lạ và hay quá! Đồng thời tôi cũng kể chuyện uống trà của mình tại các nước Châu Á mà nhứt là ở Đài Loan. Tuy câu chuyện trà ở Đài Loan tôi đã có nhiều dịp nói đi nói lại nhưng mỗi lần thuật lại vẫn khiến các bạn thích thú xuýt xoa. Sau cùng tôi thuật lại buổi uống trà ở tại nhà tôi có Viên Trân, Khánh Vân & Hải Phượng để minh họa cho chuyện thưởng thức nghệ thuật một cách trọn vẹn từ hình thức tới nội dung, tác động hơn thụ động. Cử tọa vỗ tay nồng nhiệt và ai cũng cho rằng câu chuyện của tôi đêm ấy rất hấp dẫn. KV kể lại một vài vị khách đã không ngớt nói: “Minh mẫn quá, trí nhớ minh mẫn quá!” để bày tỏ lòng yêu mến, ngạc nhiên với trí nhớ ở tuổi cửu thập của tôi. Viên Trân còn đặc biệt mời chúng tôi uống rượu sen “bách nhật” (được chưng cất đủ 100 ngày) cùng với món chè hạt sen nấu chung với hoa cúc, ăn rất ngon và mát. Trong tiệc trà, GS Nguyễn Đăng Hưng cùng vài người bạn của Viên Trân đàn guitar hát vài bản tân nhạc để phục vụ văn nghệ. Tuy nhiên tôi hơi tiếc rằng âm nhạc mang tính phương Tây hơi nhiều, nếu có chút nhạc dân tộc hay một giọng ngâm, giọng ca nào về thể tài dân tộc thì trọn vẹn hơn với buổi trà đàm Mùa Sen đậm màu dân tộc Việt ở trà quán của VT.

Khi tiệc tàn, rất nhiều bạn đến xin chụp hình với tôi. VT tặng mỗi người khách một gói quà để thay lời tiễn biệt, gồm một hộp hạt sen sấy, một gói trà sen được ướp & bọc cẩn thận trong giấy gói, và một gói kẹo sen đủ sắc màu. Tôi ra về mà lòng cảm kích đối với một tấm lòng nhiệt huyết hết mình với nghệ thuật trà Việt, sẵn sàng dấn thân, hy sinh vì đam mê của mình mà dâng tặng cho đời những nét đẹp cao quý, tao nhã của văn hóa Việt Nam.

Saigon ngày 13-05-2012 (Chủ nhật)
Trần Văn Khê

Thứ Hai, 26 tháng 5, 2014

Hầu chuyện giáo sư Trần Văn Khê

Hầu chuyện giáo sư Trần Văn Khê


GS Trần Văn Khê và đại sứ Vũ Đức Tâm

TTCN - Tôi đã mê say nghe giáo sư Trần Văn Khê nói bằng giọng rất truyền cảm, khi bằng tiếng Pháp, khi bằng tiếng Việt, khi bằng tiếng Anh về đề tài âm nhạc truyền thống VN, nhã nhạc và về cuốn sách sắp in của giáo sư: Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam.

Từ lâu, khi còn ở trong nước, tôi đã nghe nói đến giáo sư tiên sĩ Trần Văn Khê, một nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc có tiếng, một nhà sư phạm đã từng đi giảng bài, nói chuyện ở hầu khắp các nước.

Khi sang công tác tại Paris, tôi định bụng phải tìm mọi cách để tiếp xúc với giáo sư. Và cơ may đã đến: nhân dịp nhã nhạc Huế được UNESCO công bố là kiệt tác di sản phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại, Đoàn nhã nhạc Huế đã sang biểu diễn tại châu Âu vào đầu năm nay, giáo sư đã không quản tuổi cao, sức yếu nhận lời mời đến dự các buổi trình diễn và đã giới thiệu về nhã nhạc một cách sinh động, đầy sức cuốn hút, góp phần đáng kể vào thành công của các buổi diễn.

Sau đó, tôi đã quen «thân» với giáo sư và vào một ngày đầu xuân, chúng tôi đã đến thăm giáo sư tại nhà riêng ở thành phố Vitry sur Seine, ngoại ô Paris.

Khác với sự tưởng tượng của tôi, giáo sư sống trong một căn hộ khiêm tốn nằm tận trên tầng chín của một khu nhà với giá thuê rẻ. Thay vào những tiện nghi của cuộc sống hiện đại là ngổn ngang những sách, tài liệu, băng, đĩa nhạc, các loại nhạc cụ cổ truyền xếp đầy các giá sách, tủ sách, trên bàn, trên ghế và cả dưới sàn. Khắp căn hộ, phòng nào cũng vậy, sách, tài liệu, băng đĩa nhạc... lấn hết chỗ, chỉ còn một chỗ nằm của giáo sư trong phòng ngủ.

Sự giản dị trong sinh hoạt đến mức khó tưởng tượng nổi của vị giáo sư nổi tiếng sống trên đất Paris hoa lệ khiến tôi chợt nhớ lại cách đây khoảng hơn 20 năm, tôi có dịp cùng một nhà báo Pháp đến gặp nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện tại nhà riêng ở Hà Nội. Ông bà Nguyễn Khắc Viện sống trong một căn phòng vừa là phòng khách vừa là phòng ngủ. Đồ đạc không có gì mà cũng chỉ thấy toàn sách, báo.

Trước mặt tôi là một người mảnh khảnh, mặc chiếc quần kaki với cái áo sơmi cộc tay đã bạc màu. Ông niềm nở mời chúng tôi ngồi xuống mấy cái ghế gỗ cũ kỹ đã tróc gần hết vécni và mời chúng tôi uống nước bằng bộ ấm chén cũng thật đặc biệt, ấm thì sứt vòi, còn chén thì mỗi cái một kiểu... Nhưng ông đã lôi cuốn khách suốt từ đầu đến cuối với sự uyên bác, cách nói say sưa đầy thuyết phục, bằng một thứ tiếng Pháp “còn hay hơn cả người Pháp” như lời ông nhà báo đã nói với tôi sau cuộc gặp ấy. Sự giản dị trong cách sống tỉ lệ nghịch với vốn kiến thức sâu rộng, phong cách lịch lãm và sự tinh tế trong ứng xử của ông đã gây ấn tượng mạnh cho tôi và ông nhà báo Pháp.

Giáo sư Trần Văn Khê cũng cho tôi cảm tưởng như vậy. Tôi đã mê say nghe giáo sư nói bằng giọng rất truyền cảm, khi bằng tiếng Pháp, khi bằng tiếng Việt, khi bằng tiếng Anh, đến mức không để ý gì đến thời gian trôi qua. Câu chuyện xoay quanh đề tài âm nhạc truyền thống VN, nhã nhạc và về cuốn sách sắp in của giáo sư: Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam.



Ảnh: Huỳnh Ngọc Dân

+ Thưa giáo sư, nhân duyên nào hoặc duyên nợ đặc biệt nào đã khiến giáo sư gắn bó cả cuộc đời với âm nhạc truyền thống VN và nhã nhạc?

- Tôi gắn bó cả cuộc đời với âm nhạc truyền thống do một “thiên duyên”.

Nhờ trời tôi được sinh ra trong một gia đình, hai bên nội ngoại đến tôi bốn đời đều là nhạc sĩ. Lúc tôi còn ở trong bụng mẹ đã được cậu Năm tôi thổi sáo cho nghe mỗi ngày. Vừa mở mắt chào đời đã được nghe tiếng sáo của cậu Năm tôi. Từ nhỏ đến lớn, khi biết nói là biết ca. Từ 6 tuổi đã biết đờn cò (đàn nhị), đờn kìm (đàn nguyệt), 12 tuổi đờn tranh, 7 tuổi đã theo gánh hát cải lương của cô Ba tôi là bà Trần Ngọc Viện lập ra. Do đó, việc tôi gắn bó với âm nhạc truyền thống đúng là nhờ “duyên trời” vậy.

Tôi đến với nhã nhạc Huế như tôi đã đến với ca trù, chầu văn miền Bắc, hát bội miền Nam, nhạc Phật giáo ba miền - những bộ môn đó gặp khó khăn do những thay đổi về mặt chính trị, kinh tế, xã hội tại VN và có thể bị chìm vào quên lãng. Khi đã thấy các bộ môn ấy thật sự có những giá trị nghệ thuật nhưng chưa được đông đảo quần chúng và các cơ quan hữu trách nhận thức, tôi đã kiên trì phân tích, đúc kết và nêu ra những ưu điểm của các bộ môn ấy bằng những bài viết và những buổi nói chuyện.

Tôi cũng tìm đủ cơ hội để giới thiệu những bộ môn ấy với người nước ngoài bằng đĩa hát, băng từ, băng video để họ có dịp thưởng thức, phê bình, đánh giá. Lần lần những bộ môn ấy đã được hồi sinh.

+ Trong cuốn sách Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam sắp ra mắt bạn đọc của giáo sư, “du ngoạn” có thể hiểu như thế nào?

- Từ khi tôi có dịp nói chuyện âm nhạc truyền thống VN cho đồng bào trong nước, tôi thường được nghe thính giả hỏi: «Chẳng biết âm nhạc truyền thống VN có những gì và tại sao giáo sư có thể dành cả cuộc đời mình để tìm hiểu, giới thiệu và giảng dạy nó ở nhiều nơi?”.

Quyển sách sắp xuất bản trong mùa hè tới đây là câu trả lời của tôi, và tôi viết cho quảng đại quần chúng. Không đi sâu vào lý thuyết, không phân tích về thang âm điệu thức, tôi chỉ muốn làm một hướng dẫn viên cho đa số người Việt đi dạo chơi, ngao du trong vườn nhạc của dân tộc Việt, để thưởng ngoạn, nhìn qua một số hoa thơm cỏ lạ.

Tôi chỉ gợi ý cho các bạn thấy trong vườn hoa âm nhạc truyền thống của VN có trăm hương ngàn sắc, mỗi loại có vẻ đẹp độc đáo đặc thù, một nét duyên dáng riêng để các bạn làm quen với những loại chưa quen, tìm hiểu những điểm chưa hiểu, và sau đó sẽ quí yêu thêm những gì cha ông chúng ta truyền từ đời này qua đời nọ, và để lại cho chúng ta một di sản văn hóa rất lớn, rồi… bỏ bớt lòng tự ti mặc cảm và thêm chút ít tự hào dân tộc.

Du ngoạn là như vậy đó. Lúc nào khỏe đi lâu, lúc nào mệt thì dừng chân. Không ai bắt buộc các bạn phải vào cửa này, ra ngõ kia. Các bạn tự do du ngoạn. Cuộc du ngoạn trong âm nhạc truyền thống VN sẽ theo con đường đời của một con người trong xã hội VN từ lúc sơ sinh đến lúc trở về cõi vĩnh hằng.

Trong sách, chúng tôi có nhấn mạnh rằng tiếng hát ru là bài giáo dục âm nhạc đầu tiên người mẹ truyền sang đứa con. Lớn lên, dù không học trong các trường nhạc hay nhạc viện, nhưng nhờ dựa vào cấu trúc câu hát ru được ghi vào tiềm thức của mình lúc còn là đứa bé nằm trong cánh tay êm ấm của bà mẹ mà chàng thanh niên hay cô thiếu nữ đã tạo ra những câu hò điệu lý rất hay.

Trong quyển sách này, chúng tôi chỉ đưa các bạn đi du ngoạn trong truyền thống âm nhạc của người Kinh để nhận diện và biết qua những gì cha ông chúng ta đã để lại, và hẹn có những chuyến khác, không phải chỉ dạo qua mà dừng chân lâu hơn để có đủ thì giờ nhận thức được những cái hay, những nét đẹp kín đáo của mỗi bộ môn, và sẽ nhờ những hướng dẫn viên khác đưa các bạn đi xem những bông hoa còn ẩn núp trong chôn núi rừng ở các miền cao.


+ Trước tác động của nền kinh tế thị trường và nguy cơ đồng nhất hóa các giá trị văn hóa, theo giáo sư, chúng ta phải làm gì để gìn giữ được bản sắc âm nhạc truyền thống nói chung và hát ru nói riêng, không phải chỉ để biểu diễn trên sân khấu bởi các nghệ sĩ chuyên nghiệp mà còn trả lại nó vào cuộc sống thường ngày, như có ai đó đã từng mơ ước: Bao giờ xóm ngõ đổi đời/Để tôi nghe tiếng ru hời ngày xưa?

- Từ hơn 20 năm nay, tôi đã nhắc đi nhắc lại không nên để tiếng ru tắt trên môi các bà mẹ. Cố nhạc sĩ Lưu Hữu Phước đã tổ chức liên hoan hát ru đầu tiên năm 1989, sáu tháng trước khi từ giã cõi đời và bài ca cuối cùng của nhạc sĩ mang tên Lời ru chim Lạc.

Giữ gìn tiếng hát ru cũng là bước đầu giữ gìn bản sắc dân tộc. Đã nhiều lần tôi nhận thấy rằng bản sắc dân tộc bị lu mờ, thanh niên thích nghe nhạc nước ngoài hơn nhạc dân tộc là một căn bệnh mãn tính. Muốn trị bệnh ấy phải trị căn chứ không trị chứng. Và những phương thuốc tôi đề nghị là:

+ Làm sống lại tiếng hát ru;
+ Tập trẻ em hát lại đồng dao hoặc những bài hát sáng tác theo truyền thống dân tộc với nội dung phù hợp với trẻ;
+ Khuyến khích nông dân hò trong khi làm việc, hát trong lúc nghỉ ngơi;
+ Khuyến khích thanh niên hát những bài loại đối ca nam nữ;
+ Tổ chức những liên hoan dân ca cổ nhạc, những cuộc thi nhạc khí và tiếng ca dân tộc;
+ Đem âm nhạc vào học đường, từ lớp mẫu giáo, tiểu học lên đến đại học;
+ Báo chí và các phương tiện truyền thông nên có nhiều bài viết, nhiều chương trình phát thanh, phát hình giới thiệu và giảng giải về âm nhạc dân tộc;
+ Tôn vinh những nghệ nhân cả đời phụng sự âm nhạc dân tộc.

Phải nghe thường mới thấm, phải học mới hiểu, có hiểu mới thích, có thích mới thương, có thương mới muốn giữ gìn, mới sẵn sàng luyện tập biểu diễn và phổ biến. Như thế âm nhạc truyền thống mới thêm được sinh lực và bản sắc dân tộc mới được giữ gìn.


+ Là người sống lâu năm ở nước ngoài, giáo sư đánh giá thế nào về tình hình truyền bá văn hóa VN nói chung, âm nhạc cổ truyền VN nói riêng đối với cộng đồng quốc tế thời gian qua? Chúng ta cần làm gì để làm tốt hơn công tác này?

- Đến nay, theo tôi, chúng ta chưa làm thật tốt công việc đó.

Chúng ta có thể truyền bá âm nhạc cổ truyền dưới nhiều dạng: đĩa hát, băng từ, băng video, sách báo, chương trình phát thanh, chương trình truyền hình, chương trình trên mạng lưới Internet. Nhưng sống động và hiệu quả nhất là cho những đoàn nghệ thuật dân tộc ra trình diễn tại nước ngoài, với những chương trình âm nhạc dân tộc có chất lượng nghệ thuật, có lời giới thiệu khoa học, ngắn gọn mà đầy đủ.

Chúng ta cần tạo điều kiện hơn nữa cho nghệ sĩ đi dự liên hoan quốc tế, cho các nhà nghiên cứu đi dự hội nghị quốc tế về âm nhạc, kịch nghệ. Văn hóa và âm nhạc của chúng ta được giới thiệu và thảo luận trong các hội nghị quốc tế sẽ được có khi đến cả trăm nước tham dự hội nghị quan tâm và thưởng thức.

+ Xin cảm ơn giáo sư, chúc giáo sư luôn mạnh khỏe để tiếp tục đóng góp nhiều hơn nữa cho việc gìn giữ và phát huy âm nhạc truyền thống của dân tộc.


VŨ ĐỨC TÂM 
(Đại sứ - đại diện thường trực VN tại UNESCO) 

(Theo Tuổi Trẻ)

Thứ Năm, 10 tháng 4, 2014

CÁC MÓN ĂN ĐẶC SẢN MIỀN NAM ƯA THÍCH CỦA TÔI

CÁC MÓN ĂN ĐẶC SẢN MIỀN NAM ƯA THÍCH CỦA TÔI

Tôi sanh ra tại Làng Đông Hòa, giáp ranh với Làng Vĩnh Kim, Tỉnh Mỹ Tho (Tiền Giang), cả hai gia đình bên nội và ngoại đều có cách ăn Tết đặc biệt. Tôi chỉ nhớ rõ những món ăn không thể thiếu như thịt ba rọi kho nước dừa xiêm, kèm theo đó là dưa giá, có thể cùng ăn với cơm, với bún và cuốn bánh tráng nhúng nước, Trạch (em tôi) thích cách ăn bánh tráng nhứt nên thường nói với tôi : “em nữa lớn em mua một nhà bánh tráng để ăn với thịt kho”. Thuở ấy mỗi nhà tự nấu những món ăn để dành cho những ngày Tết, không như ngày nay các thức ăn đều có bán sẵn. Tôi còn nhớ vị nem chua gói trong lá dong, bên ngoài có lá chuối, thịt và da cân đối, vị nêm nếm rất ngon, có những hạt tiêu chen vào những lát ớt, sau này khi mua nem bán ngoài thị trường tôi không tìm được nem nào ngon như vậy. Lạp xưởng cũng vậy, vừa thịt vừa mỡ, lại ướp một loại ngũ vị hương với rượu đế, dồn vào dồi trường và đem phơi nắng, cây lạp xưởng nhìn qua rất đẹp mắt, nướng lên ăn với bánh mì dòn rụm. Trong Làng tôi có gia đình chị Thìn, chuyên làm cốm đủ các loại (cốm nếp, cốm bắp …) thường chị dùng đường thốt nốt nên ăn ngọt dịu, có một hương vị đặc biệt. Ngoài ra, tôi rất thích các loại mứt làm tại nhà, nhứt là mứt gừng xắt lát mỏng, mứt dừa khô. Trong gia đình tôi có rất nhiều loại bánh phồng, bánh tráng, tôi thích ăn nhứt bánh phồng nướng còn nóng và trét mạch nha. Tại gia đình cậu Tư tôi, các chị thích làm chả đủ loại, lần nào tôi vào nhà cậu Tư cũng được nếm đủ thứ : chả cua, chả tôm thịt, chả trứng …

Những ngày thường trong năm tôi thích ăn nhứt là các món món mắm và rau, đặc biệt khi kho mắm không chỉ dùng nước lạnh mà có pha nước dừa xiêm. Đặc biệt khi có nem nướng, tôi thưởng thức với đủ các thứ rau cuốn với bánh tráng, giá, rau thơm, một lát chuối chát, một miếng khế chua. Nem nướng làm bằng thịt sống, thịt và mỡ cân đối, lại ướp tỏi, muối, đường, tiêu, khi nướng lên mỡ tươm ra ngoài, cuốn vào trong bánh tráng, chấm nước tương cũng được pha một cách tỉ mỉ, có đườngm - muối, lại thêm một chút nếp và hột điều cán ra tạo cho nước tương có độ béo, ăn một miếng nem nướng mà thưởng thức bao nhiêu vị trong miệng, thích nhứt là mình tự cuốn lấy rồi ăn.

Đặc biệt trong các loại cuốn như : bì cuốn, nem cuốn, bò cuốn … tôi thích nhứt là gỏi cuốn, trong mỗi cuốn phải có ít nhứt 3 con tôm trải đều. Cô Ba tôi biết tôi ưa gỏi cuốn nên làn nào đi học ở Sàigòn về Cô cũng đãi một bữa toàn gỏi cuốn không. Cô ba thường cho tôi số gỏi cuốn bằng với tuổi hiện thời của tôi : tôi được 13 tuổi Cô Ba cho tôi 13 cuốn … và cứ tăng lần lên mỗi năm cho đến năm 20 tuổi thì được 20 cuốn.

Còn các thức ăn thường ngày như : tép rang, canh chua cá lóc (tôi thích ăn với bún hơn với cơm), cá trê nướng chấm nước mắm gừng và các loại lăn bột chiên như cá cơm, cà tím, tôm. Về phía đồ chay tôi thích nhứt là món kiểm (nấu bí rợ và nước cốt dừa, có khi thêm bột khoai).

Về món bánh tôi thích bánh tét chuối, bánh quai vạc, bánh Flan.

Tuy sanh trong một gia đình chỉ khá giả, không giàu, nhưng tôi được thưởng thức nhiều món ăn đặc sản của miền Nam. Đến nay tôi vẫn còn thưởng thức các món này một cách thú vị.

Bình Thạnh, ngày 29/07/2013 
 
Trần Văn Khê

Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

GS Trần Văn Khê: Thư viện bao dung

GS Trần Văn Khê: Thư viện bao dung
10/02/2014 11:06 (GMT + 7)
 
Trong trái tim đầy tình yêu với âm nhạc Việt Nam, giáo sư Trần Văn Khê chưa bao giờ muốn ngừng lại việc ghi chép, nghiên cứu…  để lại cho thế hệ sau những điều quý giá cần có trong kho tàng âm nhạc Việt.
Như một cây đại thụ luôn tỏa bóng mát cho đời, ông mở ra một khung trời rợp mát, mải mê quên cả những giới hạn thiên định ngày mai.
GS Trần Văn Khê trong buổi nói chuyện về âm nhạc dân tộc với sinh viên - Ảnh: T.T.D.
Hai năm trước, 2011, dù đã mệt nhiều nhưng giáo sư Trần Văn Khê vẫn chăm chút cho xong tập Tính dân tộc trong âm nhạc Phạm Duy & tình bạn Duy Khê. Quyển sách được coi như là một trong những tác phẩm cuối của ông ra mắt công chúng. Chỉ là nhận định lại một con người và dòng nhạc, nhưng giáo sư Trần Văn Khê vẫn đưa ra được nhiều lý luận và phân tích độc đáo về phong cách âm nhạc của nhạc sĩ Phạm Duy, bạn ông.
Chính nhạc sĩ Phạm Duy lúc sinh thời, khi đọc đến những phần nghiên cứu hệ thống bậc thang âm ngũ cung của mình trong sáng tác mới và cả cách sáng tạo những thang âm ngũ cung mới, đã xúc động đến ứa nước mắt vì không ngờ có người bạn lại chiêm nghiệm mình sâu sắc đến vậy. Còn giáo sư Trần Văn Khê thì cười và khiêm tốn nói rằng mình chỉ đủ sức ghi nhận một tài năng, từ góc nhìn cổ truyền của dân tộc Việt.
Cuối năm 2013, với hành trình ở cõi nhân gian dài gần một thế kỷ, sức khỏe giáo sư Trần Văn Khê yếu đi rất nhiều. Vậy mà, dù không viết được gì vào lúc này, ông vẫn dành sức và thời gian để giúp nhà thơ Phạm Thiên Thư ra mắt và quảng bá bộ Hát ru Việt sử thi. Vì sức yếu ông phải chia ra nhiều lần mới đọc hết, rồi chia sẻ, góp ý 274 trang viết với 3.320 câu lục bát của nhà thơ Phạm Thiên Thư. 
Công việc của một nhà nghiên cứu âm nhạc là vậy: thầm lặng, tỉ mỉ và kiên nhẫn. Suốt 60 năm gắn bó với âm nhạc cổ truyền Việt Nam, ngập tràn những bài viết, tư liệu và giải thưởng quốc tế… ông trở thành một thư viện khổng lồ và bao dung chia sớt. Không có ông, người Việt thiếu mất một gia tài vĩ đại tổ tiên để lại, mà ông là người được chọn để gìn giữ trong trăm năm.
GS Trần Văn Khê giới thiệu âm nhạc dân tộc với học sinh TP.HCM - Ảnh: T.T.D.
“Tôi chỉ là một nhà nghiên cứu, tôi không có gì vui để nói về mình” - giáo sư Trần Văn Khê cười nói  lúc ông đang nằm điều trị tại Viện Tim cuối năm 2013. Nhưng có lẽ người ta không nói đến cái vui khi chiêm ngưỡng một thư viện lớn, mà chỉ nhìn thấy nơi đó sự hấp dẫn của tri thức mời gọi. Đó cũng là cái cách mà người giáo sư đang đau yếu, không còn đứng vững phải di chuyển bằng xe lăn ngay trong ngôi nhà của mình, nhưng ông vẫn ngồi và im lặng nhìn từng cây đàn, từng bộ gõ, từng ngăn sách… như những người bạn cũ đang hấp dẫn gọi mời, và biết rằng một ngày nào đó rồi ông cũng sẽ phải chia tay chúng.
Trong một bài nói chuyện về đàn tranh, giáo sư Trần Văn Khê giới thiệu về hình thức giống nhau của đàn tranh Trung Quốc và Việt Nam. Dù giản đơn hơn, dù vay mượn dáng vẻ, nhưng người Việt Nam đã tạo ra sự khác biệt độc đáo bởi lối nhấn dây độc đáo ở tay trái. “Ngay khi chơi trên cây đàn Trung Quốc, nếu để vào đó linh hồn Việt Nam thì cây đàn đó cũng phải reo tiếng Việt” - giáo sư nói. Câu chuyện về đàn tranh chỉ có vậy, nhưng đã âm vang trong trái tim không biết bao người về nguồn cội và giá trị không thể thay đổi của người Việt từ ngàn năm. Bài nói chuyện có từ năm 2002, khi ấy giáo sư nói và tự đàn để chứng minh. Đến năm 2013, 93 tuổi, ông chỉ còn nhìn cây đàn treo trên vách như người bạn già chia nhau không gian quá khứ, vì ông đã không còn đủ sức để đàn được nữa rồi.
“Mình thiếu nhiều người nghiên cứu âm nhạc quá” - giáo sư Trần Văn Khê tư lự, dù dòng họ của ông có đến bốn đời đi theo âm nhạc, thậm chí con trai của ông là giáo sư Trần Quang Hải cũng là một nhà nghiên cứu âm nhạc lừng danh. Có lẽ, với ông, một đời chưa bao giờ đủ cho đam mê, cho gìn giữ.
Ước mơ về chuyện cây đời mãi mãi xanh tươi chắc chỉ nằm trong cổ tích. Nhưng trong cuộc sống này, nghe chừng vẫn có những cây đời sẽ tỏa bóng mát mãi xanh tươi cho nhiều thế hệ người Việt mai sau.

Theo TUỔI TRẺ Online

Xem bài viết tại Tuổi Trẻ (Xuân Giáp Ngọ 2014)

Thứ Ba, 14 tháng 1, 2014

Mối quan hệ Việt-Pháp qua một góc nhìn văn hóa

Mối quan hệ Việt-Pháp 
qua một góc nhìn văn hóa

Nước Pháp là một quốc gia Châu Âu có nền văn hóa vô cùng phong phú. Thủ đô Paris hoa lệ nức tiếng là điểm hẹn của giới văn nghệ sỹ trên toàn thế giới. Cùng với những người bản địa, đất nước này còn tiếp đón nhiều luồng văn hoá, nhiều màu da, tiếng nói… trên khắp năm châu đến đây sanh sống, tạo thành một vẻ đẹp văn hoá đa dạng đầy sức sống. Nước Pháp chào đón nhiều khách bốn phương, nhưng không truyền bá văn hóa Pháp để đồng hóa các dân tộc bạn, ngược lại họ đã tiếp nhận thêm những nét văn hoá mới ngoài văn hoá bản địa, để văn hoá các dân tộc khác được tự do sanh sôi nảy nở và phát triển trọn vẹn, khiến cho nước Pháp trong mắt bạn bè thế giới là một quốc gia đa văn hoá, muôn màu muôn vẻ. Trong số những dân tộc trú ngụ trên đất nước này, Việt Nam là một trong những quốc gia Châu Á có nhiều mối quan hệ đặc biệt lâu đời với Pháp ở phương trời Tây xa xôi, nhất là về mặt văn hoá.

Quay ngược dòng thời gian vào thế kỷ thứ 16, có một nhà truyền giáo gốc người Pháp sanh tại Avignon là ông Alexandre de Rhodes – người đầu tiên viết ra tự điển bằng 3 thứ tiếng Việt – Bồ – La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum Latinum) in tại Rome năm 1651, sau này quyển tự điển đã được các nhà ngôn ngữ học, sử học sử dụng để tham khảo cho các công trình nghiên cứu về chữ Quốc ngữ tại Việt Nam. Lịch sử ghi nhận ông là người đã hệ thống hoá cách viết của chữ Quốc ngữ, đã giúp cho dân tộc Việt Nam phổ biến được rộng rãi những trước tác được viết bằng ngôn ngữ Hán – Nôm.

Bên cạnh đó, có rất nhiều người Pháp trong mọi lãnh vực đã đến Việt Nam tìm hiểu và nghiên cứu văn hoá của người Việt (hầu hết là những nhà dân tộc học) như các ông Cadiere, Haudricourt, Maspero, Cordier… và sau này có những nhà nghiên cứu nổi tiếng về Việt Nam học, điển hình như ông Emile Gaspardone, một đại giáo sư tại College de France về văn hoá và lịch sử Việt Nam, người đã dựng một thư mục đăng trong tạp chí Trường Viễn Đông Bác Cổ năm 1934, gồm có 154 danh sách của các bài viết và sách báo đã được in ra bằng ngôn ngữ Hán – Nôm. Chính nhờ Giáo sư Emile Gaspardone khuyên mà tôi đã tìm đọc những cuốn sách phục vụ cho nghiên cứu âm nhạc truyền thống Việt Nam như: Ức Trai di tập, Ức Trai thi tập, Dư địa chí, đại Việt sử ký toàn thư, Khâm Định Việt sử thông giám cương mục, Lê triều hội điển, Lịch triều hiến chương loại chí, Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ…

Bác sĩ Yersin là người đã xây dựng nên thành phố Đà Lạt mộng mơ nơi cao nguyên Trung phần Việt Nam, là người có công trong việc hình thành nét đẹp của thành phố này.

Nhà nghiên cứu Maurice Durand đã sưu tầm rất nhiều dân ca Việt Nam. Ông đã cùng với Giáo sư Pierre Huard (một giáo sư y học nhưng lại yêu thích văn hoá) viết ra quyển “Connaissances du Vietnam” (Những điều cần biết về Việt Nam). Đây là một cuốn sách tập trung tất cả những phong tục tập quán của người Việt Nam từ cách ăn mặc, làm việc, tiêu khiển, tín ngưỡng… để những ai muốn tìm hiểu văn hoá và con người Việt Nam có thể nắm sơ lược.

Khi người Pháp tìm hiểu văn chương Việt Nam, một số lớn khi gặp quyển Kim Vân Kiều hết sức khâm phục tài nghệ của cụ Nguyễn Du và có rất nhiều người Pháp chịu khó dịch lại hơn 3000 câu thơ. Năm 1884, ông Abel des Michels là người đầu tiên dịch truyện Kiều ra Pháp ngữ và in ra thành 3 bổn. Đến năm 1915, một nhà văn Pháp tên Leon Masse – một sỹ quan hải quân rất mê Truyện Kiều đã dịch ra toàn bộ truyện bằng tiếng Pháp mà lại lấy bút hiệu bằng tiếng Việt là Thu Giang. Năm 1926, một nhân viên của toà Khâm sứ Pháp tên là Rene Crayssac. 1943 một sỹ quan hải quân khác tên Marcel Robbe cũng dịch cuốn truyện Kiều sang tiếng Pháp… Điều này chứng tỏ trong tất cả những người Âu Mỹ có dịp tiếp cận với nền văn chương Việt Nam, đa phần chỉ có người Pháp là đi sâu vào lãnh vực này, họ tìm hiểu, thích thú và thưởng thức cái đẹp trong đó.

Khi người Việt sang sanh sống tại đất Pháp, cũng có một số người ngoài việc học tập người Pháp về mặt khoa học – kỹ thuật còn am hiểu văn hoá Pháp một cách sâu sắc. Người Việt sử dụng tiếng Pháp một cách tinh vi đến đỗi Hàn lâm viện Pháp phải tặng cho họ những giải thưởng.

Năm 1961, ông Phạm Văn Ký đã viết một cuốn tiểu thuyết bằng tiếng Pháp “Perdre la demeure” (Đánh mất ngôi nhà) và được giải thưởng của Hàn lâm viện Pháp.

Sau này bác sĩ Nguyễn Khắc Viện cũng được Hàn lâm viện Pháp tặng cho một giải thưởng đặc biệt vì anh đã cho xuất bản bằng tiếng Pháp nhiều quyển sách về lịch sử và văn hoá Việt Nam mà lời văn rất trau chuốt.

Giáo sư Phạm Duy Khiêm (anh ruột của nhạc sỹ Phạm Duy) là người đầu tiên được vào học trường Đại học Sư phạm đường Ulm cùng một khoá với cố Tổng thống Pháp Georges Pompidou và cố Tổng thống Senegal Louis Senghord, đã viết rất nhiều quyển sách bằng tiếng Pháp, rất được người Pháp yêu chuộng, chúng ta chỉ nhắc lại hai quyển: “Legendes des Terres Sereines” (Huyền thoại miền Thanh Lãng) bao gồm những mẩu chuyện truyền thuyết và cổ tích Việt Nam, và quyển “La femme de Nam Xương” (Người thiếu phụ Nam Xương). 


Một người Việt nữa cũng từng học trường Đại học Sư phạm Pháp là triết gia Trần Đức Thảo cùng một khoá với triết gia rất nổi tiếng của phái Hiện Sinh là Jean Paul Sartre. Tôi đã từng gặp anh Trần Đức Thảo và cùng dùng cơm với anh tại tư gia của anh. Anh thuật lại cho tôi nghe một vài điều mà anh đã thảo luận với Jean Paul Sartre, nói cho tôi biết rằng trong những cuộc tranh luận đó, rất nhiều lần Jean Paul Sartre phải nhìn nhận Trần Đức Thảo có lý. Chắc các bạn ở Việt Nam không ngờ rằng một triết gia Pháp nổi tiếng thế giới mà chủ nghĩa Hiện Sinh của ông ảnh hưởng khá đậm nét trong giới triết học – văn chương – âm nhạc – thi ca lúc bấy giờ, lại có lần tranh luận tay đôi ngang hàng với nhau và chấp nhận những lý luận của Trần Đức Thảo.

Ngoài ra, một sinh viên Việt Nam lỗi lạc khác, trong hai tháng 5 và tháng 6 năm 1932, đã bảo vệ thành công hai luận án Tấn sĩ quốc gia Pháp về Luật và Văn chương lúc 22 tuổi. Ông là Nguyễn Mạnh Tường, “lưỡng khoa tấn sĩ” lừng danh trong lịch sử Việt Nam và Pháp. Năm 1989, khi Nguyễn Mạnh Tường trở lại Pháp, ông lại được nhắc tới với một sự tôn kính và khâm phục của Hiệu trưởng trường Đại học Paris VII: “Đã 60 năm qua, trên đất nước Pháp này, chưa có một sinh viên Pháp hay sinh viên quốc tế nào phá được kỷ lục của Giáo sư kính mến: hai bằng Tiến sĩ quốc gia ở tuổi 22" (Dẫn theo bài viết của nhà sử học Dương Trung Quốc). Tôi chưa từng được tiếp xúc với Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường, nhưng qua những tư liệu đọc được về ông, tôi thấy trong số 4 luận án Tấn sỹ của ông (gồm 2 luận án chánh và 2 luận án phụ) thì đã có tới 3 đề tài về văn chương, luật pháp và xã hội Việt Nam. Điều đó cho thấy rằng, Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường tuy học văn hoá Pháp, nhưng vẫn tôn trọng văn hoá Việt, và sau này về nước lại đem những hiểu biết đó về đào tạo sinh viên Việt Nam, giúp cho sinh viên Việt Nam hiểu biết thêm về văn hoá phương Tây để so sánh với văn hoá của mình.

Riêng tôi, khi bắt đầu sang Pháp năm 1949, đã từng theo học Luật Quốc tế tại Viện khoa học Chánh trị Paris (Institut d’etudes Politiques), đồng thời học khoá cử nhơn Anh văn tại Đại học Sorbonne – Paris. Đến năm 1951, tôi thi đậu ra trường Chánh trị với bằng cấp về Giao dịch Quốc tế (Relations Internationales), nhưng rồi vì bịnh nặng phải vào Viện dưỡng lao trong vòng 3 năm trời. Lúc đó, nhờ tổ chức xã hội rất tốt bên Pháp nên tôi dầu không có tiền nhưng vẫn được săn sóc đầy đủ. Khi ở tại Viện dưỡng lao Aire Sur l’Adour tận miền Nam nước Pháp, biết tôi đang soạn luận án Tấn sĩ tại đại học Sorbonne – Paris, tổ chức xã hội có phái một người đến lấy danh sách những tư liệu tôi cần tham khảo, lưu trữ tại Bảo tàng viện quốc gia Pháp (Paris) để người đó đích thân tìm những quyển sách đó đem đến đầu giường bịnh của tôi. Sau một tuần lại gom những cuốn sách đó trả trở lại cho thư viện. Nhờ vậy mà trong thời gian ở bịnh viện, tôi đã thực hiện được một bổn thư mục khá đầy đủ cho luận án của tôi. Để giúp cho tôi lần lần làm quen với cuộc sống hằng ngày, tôi được săn sóc tại Postcure de Sceaux (nhà để dưỡng bịnh sau khi được điều trị). Đến năm 1954, tôi xuất viện và theo học tại Viện nhạc học Paris (Institut de Musicologie). Tháng 6 năm 1958, tôi bảo vệ thành công luận án Tấn sĩ Đại học Văn khoa Pháp (môn Âm nhạc học) với luận án chánh: “Âm nhạc truyền thống Việt Nam” và luận án phụ: “Khổng Tử và âm nhạc”. Tôi được chấm ưu hạng với lời khen của ban giám khảo. Bách khoa từ điển Gallimard năm đó chuẩn bị viết một chương lớn về các truyền thống âm nhạc của Châu Á mà trong đó không có dự định cho Việt Nam một trang nào cả. Ông chủ biên Roland Manuel mời tôi đến và nói: “Tôi có được may mắn nghe ông bảo vệ luận án Tấn sỹ về âm nhạc Việt Nam, tôi thấy rằng truyền thống Việt Nam rất sâu sắc và khác hẳn văn hoá Trung Quốc, nhưng tôi không thể mời ông viết một bài về âm nhạc truyền thống Việt Nam trong tình trạng ngày nay. Tôi đề nghị xén bớt mỗi truyền thống của Châu Á 1 trang và mót được 9 trang, chẳng hay ông có bằng lòng viết 1 bài về truyền thống Việt Nam với số trang áy không để cho việt Nam có mặt với các nước khác?”. Tôi bằng lòng và bài đó là bài đầu tiên được đăng trong một bách khoa từ điển âm nhạc danh tiếng của nước Pháp.

Tiếp tục, các nhà xuất bản Larousse, Fasquelles, Retz mời tôi viết bài về âm nhạc Việt Nam và âm nhạc Châu Á. Nhờ đó trong giới nghiên cứu âm nhạc tôi đã có môt vị trí khả quan. Năm 1959, tôi được vào làm việc trong Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học Pháp, khoa Âm nhạc học với chức vụ Tuỳ viên nghiên cứu (Attache de Recherches) được lãnh lương để nghiên cứu âm nhạc Việt Nam, và tuần tự tôi lên chức thường là trước kỳ hạn. Năm 1963, lãnh chức vụ Chuyên viên nghiên cứu (Charge de Recherches). Như vậy là yên cả cuộc đời trong công việc nghiên cứu. 4 năm sau, 1967, tôi lãnh chức vụ Nghiên cứu sư (Maitre de Recherches), vị trí này được quyền định đoạt đề tài nghiên cứu cho mình, đồng thời có thể chỉ đạo nghiên cứu cho sinh viên soạn luận án Tấn sĩ. Năm 1971, lãnh chức Giám đốc nghiên cứu (Directeur de Recherches) ngang hàng với cấp bậc Giáo sư đại học. Trong mấy chục năm, tôi vừa có lương bổng đầy đủ, có tiền trợ cấp để mua dụng cụ nghiên cứu, có phương tiện về Việt Nam điền dã… và nhờ đó mà công trình nghiên cứu của tôi được phong phú, sâu sắc, tôi khỏi cần làm nghề gì khác để mưu sinh.

Sự kiện đó chứng tỏ cho chúng ta thấy rằng nước Pháp rất tôn trọng văn hoá của các dân tộc khác và tạo điều kiện thuận tiện để cho họ phát triền nền văn hoá đó song song với việc tiếp nhận văn hoá Pháp trong đời sống và trong trường học. Người Pháp rất hãnh diện có được rất nhiều kiều dân không phải sanh tại nước Pháp mà được nổi danh từ đất nước Pháp, đem vinh dự chẳng những cho Pháp mà cho dân tộc của mình. Và người Việt Nam nói riêng và các dân tộc khác nói chung, trong mối quan hệ với nước Pháp, chẳng những tiếp thu được văn hoá Pháp, thành tài trên đất Pháp mà ngược lại họ còn tạo điều kiện cho nước Pháp có được một nền văn hoá đa dạng muôn hình vạn sắc. Đặc biệt là mối liên hệ sâu sắc giữa hai đất nước phương Tây và phương Đông như Pháp với Việt Nam. 


TRẦN VĂN KHÊ
Bình Thạnh, Saigon mùa thu 21.09.2013

CHÂN DUNG TRẦN VĂN KHÊ DO CÁC KIẾN TRÚC SƯ CHỤP 2013